Page 25 - GDQP 12
P. 25
Tiềm lực khoa học, công nghệ được biểu hiện chủ yếu ở các mặt : khả
năng phát triển khoa học, đội ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật ; cơ sở vật chất kĩ
thuật có thể huy động phục vụ cho quốc phòng, an ninh và năng lực ứng dụng
kết quả nghiên cứu khoa học có thể đáp ứng yêu cầu của quốc phòng, an ninh
và nhằm tạo nên khả năng về khoa học, công nghệ của quốc gia có thể khai
thác, huy động phục vụ cho quốc phòng, an ninh.
Ngày nay, xây dựng tiềm lực khoa học, công nghệ của nền quốc phòng
toàn dân, an ninh nhân dân cần tập trung :
− Huy động các ngành khoa học, công nghệ quốc gia, trong đó khoa học
quân sự, an ninh làm nòng cốt để nghiên cứu các vấn đề về quân sự, an ninh,
để sửa chữa, cải tiến, sản xuất các loại vũ khí trang bị.
− Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa
học, kĩ thuật. Kết hợp giữa đội ngũ cán bộ nghiên cứu về kinh tế với nghiên
cứu quốc phòng, an ninh.
− Đổi mới và từng bước hiện đại hoá cơ sở hạ tầng, phòng thí nghiệm.
Bốn là : Xây dựng tiềm lực quân sự, an ninh
Tiềm lực quân sự, an ninh của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân
dân là khả năng tiềm tàng về vật chất và tinh thần có thể huy động tạo thành
sức mạnh phục vụ cho nhiệm vụ quân sự, an ninh, cho chiến tranh.
Tiềm lực quân sự, an ninh cũng là nhân tố cơ bản của tiềm lực quốc
phòng, an ninh ; là biểu hiện tập trung, trực tiếp sức mạnh quân sự, an ninh
của Nhà nước, giữ vai trò nòng cốt để bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
Được thể hiện ở khả năng duy trì và không ngừng hoàn thiện phát triển
các lực lượng vũ trang ; nguồn dự trữ về sức người, sức của trong thời bình
và sẵn sàng chuyển thành sức mạnh phục vụ trong thời chiến.
Ngày nay, xây dựng tiềm lực quân sự, an ninh, cần tập trung :
− Xây dựng quân đội và công an theo hướng “Cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, nâng cao chất lượng tổng hợp, lấy xây dựng
chính trị làm cơ sở.
− Gắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với quá trình xây
dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang.
24

